Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 320 năm Biên Hòa - Đồng Nai hình thành và phát triển (1698 - 2018)

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 320 NĂM BIÊN HÒA - ĐỒNG NAI  HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN (1698 - 2018)

I. KHÁI QUÁT VỀ ĐỒNG NAI

Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích tự nhiên là 5.907 km2, chiếm 1,76% diện tích cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Tỉnh Đồng Nai có 9 huyện, 01 thị xã và thành phố Biên Hòa; 171 xã, phường, thị trấn và 962 ấp, khu phố; dân số toàn tỉnh trên 3,2 triệu người (là tỉnh có dân số đông thứ 5 so với cả nước và đứng thứ hai trong số các tỉnh, thành miền Đông Nam bộ); có 37 dân tộc sinh sống, chiếm khoảng 7% dân số của tỉnh; tín đồ các tôn giáo chiếm 65% dân số toàn tỉnh.

Về điều kiện tự nhiên, Đồng Nai có địa hình trung du chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung bộ đến đồng bằng Nam bộ; khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa tương phản là mùa mưa và mùa khô; tài nguyên, khoáng sản đa dạng.

Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, là cửa ngõ phía đông Thành phố Hồ Chí Minh - một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, nối Nam Trung bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam bộ bởi các tuyến giao thông huyết mạch như: quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51, tuyến đường sắt Bắc - Nam, đường cao tốc Dầu Dây - Long Thành - Thành phố Hồ Chí Minh… Nằm trong vùng tứ giác kinh tế: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai có vị trí địa - chính trị hết sức quan trọng, không chỉ trong phát triển kinh tế, mà còn có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế kết hợp quốc phòng - an ninh khu vực.

Đồng Nai là địa phương có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa; trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đồng Nai là một trong những trung tâm cách mạng với hệ thống căn cứ địa liên hoàn, có Chiến khu Đ - nơi đứng chân chỉ đạo kháng chiến của Khu ủy Miền Đông, Trung ương Cục miền Nam; là địa bàn quan trọng đứng chân của quân chủ lực ta tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - Ngụy, là một hành lang, đầu cầu tiếp nhận hàng chi viện từ hậu phương miền Bắc cho miền Đông. Đây cũng là nơi diễn ra trận quyết chiến đập tan tuyến phòng thủ phía đông Sài Gòn của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, trong thời gian qua Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt nhiều thành tựu quan trọng và khá toàn diện. Liên tục trong hơn 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đồng Nai khá cao và ổn định, bình quân giai đoạn 2006 - 2015 là 13,2%; mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng kinh tế của tỉnh vẫn tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng cao, bình quân 3 năm (2015 -2017) đạt 8,01%. Sau ngày miền Nam hoàn toàn thống nhất, toàn tỉnh chỉ có 01 khu công nghiệp, thì đến nay trên địa bàn tỉnh có 32 Khu công nghiệp được cấp phép đầu tư đi vào hoạt động, với gần 01 triệu lao động đang làm việc; thu hút vốn đầu tư nước ngoài lũy kế đến nay đạt trên 32 tỉ đôla Mỹ; tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm đều đạt dự toán Trung ương giao (năm 2017 đạt gần 49 ngàn tỉ đồng, năm 2018 phấn đấu đạt dự toán Trung ương giao 53 ngàn tỉ đồng); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực và đúng hướng theo hướng công nghiệp - dịch vụ và nông nghiệp. Đến cuối năm 2017, tỉ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giảm xuống còn dưới 1% theo chuẩn nghèo của tỉnh, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người năm 2017 đạt trên 4 ngàn đôla Mỹ. Về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn tỉnh đã có 133/133 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và cũng là địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới, với 08/11 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm tỷ lệ 72%), 2 đơn vị cấp huyện đang hoàn thành các thủ tục đề nghị Trung ương công nhận. Cùng với phát triển kinh tế - xã hội, Đồng Nai đã giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, đối ngoại được mở rộng (đã thiết lập hợp tác song phương với 17 đối tác thuộc 9 quốc gia: Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ucraina, Pháp, Hoa Kỳ). Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có sự đổi mới và tiến bộ; hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng được củng cố vững chắc… Những kết quả trên đã tạo điều kiện tích lũy nguồn lực cho đầu tư phát triển, giải quyết có hiệu quả vấn đề an sinh xã hội, trật tự, an ninh, an toàn xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên, qua đó tiếp tục củng cố lòng tin của nhân dân vào các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

II. TỈNH ĐỒNG NAI TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN (1698 - 2018)

Năm 1698, Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (còn có tên Nguyễn Hữu Kính) được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược xứ Đàng Trong, thành lập dinh Trấn Biên (tiền thân của tỉnh Biên Hòa sau này) và dinh Phiên Trấn. Từ đây miền đất Đồng Nai - Gia Định đã xác lập được hệ thống hành chính và đã có những đổi thay trên nhiều mặt, kể cả về địa giới hành chính. Theo sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hòai Đức, đến đầu thế kỷ XIX (1802), dưới thời vua Gia Long, Gia Định phủ được đổi thành Gia Định trấn. Đến năm 1808 Trấn Biên dinh được đổi thành Biên Hòa trấn và Gia Định trấn lại được đổi thành Gia Định thành, thống quản 05 trấn, gồm: trấn Phiên An (có phủ Tân Bình), trấn Biên Hòa (có phủ Phước Long), trấn Định Tường (có phủ Kiến Hòa), trấn Vĩnh Thanh (có phủ Định Viễn) và trấn Hà Tiên. Đứng đầu Gia Định thành là một Tổng trấn. Được bổ nhiệm làm Tổng trấn đầu tiên của Gia Định thành là Nguyễn Văn Nhơn, còn Trịnh Hòai Đức lúc đó làm Hiệp tổng trấn. Đến năm 1812, Lê Văn Duyệt được bổ nhiệm làm Tổng trấn. Sau khi Lê Văn Duyệt mất (1832), vua Minh Mạng bãi bỏ chế độ trấn, lập ra 06 tỉnh, gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Long Hồ (còn gọi là Vĩnh Long), An Giang và Hà Tiên. Cũng từ đó mới có tên gọi Nam kỳ lục tỉnh để chỉ miền đất Nam bộ.

Trấn Biên Hòa (1808 - 1832) hay tỉnh Biên Hòa (1832 - 1861) có địa giới hành chính rất rộng, bao gồm vùng đất các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, một phần tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

Cuối thế kỷ XIX, sau khi đánh chiếm toàn bộ Nam kỳ lục tỉnh, để dễ bề cai trị, thực dân Pháp đã chia Nam kỳ thành 20 tỉnh, sau đó lại tách Vũng Tàu khỏi tỉnh Bà Rịa, lập thành một tỉnh riêng. Thời kỳ này địa giới tỉnh Biên Hòa bao gồm tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước, một phần tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh hiện tại.

Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám năm1945 thành công đến tháng 5/1951, tỉnh Biên Hòa bao gồm cả một phần đất ngày nay thuộc tỉnh Bình Phước, một phần đất của tỉnh Bình Dương. Từ tháng 5/1951 đến tháng 7/1954, hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một được sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên. Địa giới tỉnh Thủ Biên bao gồm phần đất các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, quận Thủ Đức, quận 2, quận 9 (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay), trừ huyện Long Thành lúc này được giao về tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn.

Hiệp định Giơnevơ (tháng 7/1954) về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Miền Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào tạm thời nằm dưới sự kiểm soát của chế độ ngụy quyền. Từ năm 1957, ngụy quyền Sài Gòn đã tổ chức lại bộ máy hành chính ở các tỉnh, lập tỉnh Long Khánh, gồm 02 quận Xuân Lộc và Định Quán.

Trong những năm 1960, do tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ phát triển, tỉnh Gia Định được sáp nhập với thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn thành Đặc khu Sài Gòn - Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), miền Đông Nam bộ còn 04 tỉnh nằm vắt ngang từ phía tây giáp biên giới nước bạn Campuchia sang phía đông giáp Biển Đông. Tỉnh Biên Hòa cũng nhiều lần được tách nhập với các tỉnh Thủ Dầu Một, Bà Rịa - Long Khánh, hình thành các tỉnh: Thủ Biên, Bà Biên...

Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất (30/4/1975), Đồng Nai bao gồm vùng đất các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh và Tân Phú. Đến năm 1978, huyện Duyên Hải được tách về thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1979, Vũng Tàu được tách ra thành lập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Năm 1991, 03 huyện ven biển là Xuyên Mộc, Châu Thành, Long Đất được tách ra nhập với Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo thành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tỉnh Đồng Nai còn lại địa giới hành chính như hiện nay, phía bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía nam giáp Biển Đông và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đến nay, Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện: Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Thống Nhất, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Tân Phú, Định Quán, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa.

III. ĐỒNG NAI - NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG

1. Truyền thống chống giặc ngoại xâm

Là cửa ngõ đi vào vùng đồng bằng rộng lớn Nam bộ, trong quá trình dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Đồng Nai đã không ngừng chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, giặc ngoại xâm, để sinh tồn và phát triển, làm nên một “Hào khí Đồng Nai”.

Từ khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược xứ Đàng Trong, đặt bản doanh tại Cù lao Phố, thực hiện kế sách “Định vùng, an dân” với hai chủ trương quan trọng là: “Khai hoang mở cõi và ổn định, dàn xếp biên cương”, trải qua 320 năm hình thành và phát triển (1698 - 2018), nhiều thế hệ người Biên Hòa - Đồng Nai đã đứng lên kiên cường chống giặc giữ làng, giữ đất, đã có không ít anh hùng hào kiệt đã chọn đất Đồng Nai để lập căn cứ mưu đồ nghiệp lớn. Vào thế kỷ XVII, trong cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, các chúa Nguyễn đã lấy vùng đất Trấn Biên và Phiên Trấn làm chỗ dựa để khai mở về hướng đồng bằng sông Cửu Long, thực hiện chính sách khẩn hoang rộng rãi, thu hút nguồn nhân lực, vật lực để tăng cường quốc phòng, chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Cửa biển Cần Giờ, sông Lòng Tàu đã từng chứng kiến nhiều chiến công oai hùng của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, trong những lần tiến quân vào Gia Định. Mùa xuân năm Nhâm Dần (1782), nghĩa quân Tây Sơn đánh bại đoàn quân của Nguyễn Ánh, nhấn chìm nhiều tàu đối phương ở cửa sông Cần Giờ, trong đó có tàu chỉ huy của tên Manuel, cố vấn huấn luyện thủy quân cho Nguyễn Ánh.

Tháng 02 năm Quý Mão (1783), một lần nữa nghĩa quân Tây Sơn lại đánh bại đoàn thuyền chiến của Nguyễn Ánh trên sông Lòng Tàu, tiến chiếm Gia Định. Khi Nguyễn Ánh cầu viện vua Xiêm (1785), nghĩa quân Tây Sơn, do Nguyễn Huệ chỉ huy đã theo sông Lòng Tàu tiến quân về Rạch Gầm - Xoài Mút đánh tan 05 vạn quân Xiêm và 300 chiến thuyền của chúng.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất, nhân dân Nam bộ không dễ đầu hàng giặc như triều đình nhà Nguyễn. Một lần nữa, nhân dân vùng Nhơn Trạch, với địa thế sông rạch hiểm trở, là chỗ dựa quan trọng để Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định tụ tập nghĩa quân, xây dựng căn cứ chống giặc ngoại xâm suốt 03 năm (1861 - 1864).

Tháng 02/1861, sau khi đại đồn Phú Thọ (Chí Hòa) thất thủ, Nguyễn Tri Phương chỉ huy 600 quân triều đình rút về thành Biên Hòa để tổ chức chiến đấu. Ngày 14/12/1861, quân Pháp cho hai cánh quân thủy, bộ tiến công thành Biên Hòa, quân triều đình chống trả quyết liệt. Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng, em trai Nguyễn Tri Phương và 27 nghĩa binh đã lãnh đạo nghĩa quân Long Thành, chỉ bằng vũ khí thô sơ đã chặn đánh quyết liệt quân địch trên đường 17 và 19, gây cho chúng nhiều thương vong. 

Tháng 8/1864, Trương Định hy sinh, con trai ông là Trương Quyền, một thanh niên yêu nước, nối nghiệp cha, anh dũng tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến. Trương Quyền cho lập căn cứ ở Giao Loan (Rừng Lá) chiêu tập nghĩa quân trẻ tuổi, trong đó có nhiều đồng bào và thanh niên dân tộc Châu Ro, Stiêng... liên tục tiến công quân địch, gây nhiều khó khăn cho công cuộc bình định của thực dân Pháp.

Mặc dù triều đình nhà Nguyễn đã ký nhượng 03 tỉnh miền Đông cho thực dân Pháp (Hòa ước Nhâm Tuất, 1862), nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo vẫn tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức. Nguyễn Thành Ý, Phan Trung tập hợp nhân dân cùng tham gia xây dựng hai căn cứ là Bàu Cá (nay thuộc huyện Thống Nhất) và Giao Loan (nay thuộc huyện Xuân Lộc) ở Biên Hòa để tạo điều kiện cho nghĩa quân chiến đấu lâu dài; Đoàn Văn Cự xây dựng căn cứ ở Bưng Kiệu (ấp Vĩnh Cửu, phường Tam Hiệp, quận Đức Tu (nay là thành phố Biên Hòa), chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang (1905). Đêm 14/02/1916, một tổ chức yêu nước có vũ trang ở Trại Lâm Trung - Biên Hòa đã mở cuộc tiến công đồng loạt vào các nhà làng Tân Trạch, Tân Lương, Tân Khánh, Bình Phước, Lò Gạch và khám đường Biên Hòa, dinh chủ tỉnh Biên Hòa giải thoát nhiều thanh niên bị thực dân Pháp cưỡng ép đi lính.

Các cuộc nổi dậy đó đều thất bại, nhưng tinh thần yêu nước của nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai vẫn không thể bị dập tắt, để khi gặp những tư tưởng của thời đại do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các học trò của Người truyền đến, lập tức nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai đã đứng dậy, với Phú Riềng đỏ, với Bình Phước - Tân Triều bất khuất, cùng cả nước làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945 lịch sử. 

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ (1954 - 1975), để giữ nền độc lập dân tộc, với địa bàn chiến lược quan trọng, có Chiến khu Đ nổi tiếng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Biên Hòa - Đồng Nai đã lập nên nhiều chiến công vang dội như: 

- Trận La Ngà (01/3/1948): Lực lượng tham gia chiến đấu là chi đội 10 Biên Hoà, Liên quân 17 của Khu 7, bộ đội du kích huyện đội Châu Thành (Biên Hoà), huyện đội Xuân Lộc. Trận đánh diễn ra vào ngày 1-3-1948 trên trận địa dài 09 km (từ cây số 104 đến cây số 113), ta đã tiêu diệt 150 tên lính lê dương, 25 sĩ quan Pháp trong đó có 02 tên đại tá, đốt cháy cả đoàn công voa 59 chiếc của Pháp có xe thiết giáp đi đầu. Chiến thắng La Ngà là chiến thắng giao thông lớn nhất miền Đông lúc bấy giờ, thu được thắng lợi về quân sự, chính trị rất to lớn.

- Trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên: Trận đánh do đồng chí Trần Công An chỉ huy vào đêm 18, rạng ngày 19/3/1948 thắng lợi hoàn toàn, ta đã diệt 11 tên địch, thu 08 súng và 20 lựu đạn. Đây là trận đánh với kỹ thuật ngụy trang bí mật đột nhập căn cứ địch mà chúng không phát hiện, bất ngờ tấn công. Từ trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên, Bộ Tư lệnh khu 7 đã mở hội nghị rút kinh nghiệm, hoàn thiện kỹ thuật tiếp cận, trang bị vũ khí phù hợp nhân rộng và đồng loạt tấn công các tháp canh trên các quốc lộ 1, 16, liên tỉnh 16, 24, phá tan “chiến thuật De Latour” của địch.

Ngày 25/5/1950, đại đội Nguyễn Văn Nghĩa - đại đội đặc công đầu tiên ở Đông Nam bộ ra đời. Kỹ thuật đặc công từ Biên Hoà đã được phổ biến ra khắp miền Đông và cả nước, góp phần lập nên những chiến công giòn giã trong kháng chiến chống Pháp. Ngày 18/3 sau này được lấy làm ngày thành lập binh chủng đặc công.

- Cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp: Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, vào lúc 17 giờ 50 phút, ngày 02/12/1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh uỷ miền Đông, Đảng ủy nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm và một số đồng chí khác đã làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Tuy chưa giải thoát được hết các tù chính trị tại nhà lao nhưng Cuộc phá khám là một tiếng vang lớn lúc bấy giờ, đã làm xôn xao cả Lầu Năm góc. Đây là cuộc nổi dậy ngoạn mục của các tù nhân chính trị để trở về với cách mạng.

- Trận đầu diệt Mỹ: 19 giờ, ngày 07/07/1959 một phân đội gồm 05 chiến sĩ đặc công thuộc đơn vị C250 Biên Hoà đã tiến công vào trụ sở phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MAAG tại Nhà Xanh (nay thuộc phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa). Sau 15 phút tập kích, 02 lính Mỹ bị tiêu diệt (thiếu tá D.Buis và Trung sĩ C. Ovmand). Đây là trận đánh Mỹ đầu tiên của quân dân miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

- Chiến thắng sân bay Biên Hoà: Thực hiện chủ trương của Bộ chỉ huy Miền, vào lúc 23 giờ 20 phút, đêm 31/10/1964, lực lượng ta đã tổ chức tập kích vào sân bay Biên Hòa. Ta đã bắn cháy, làm hư hại nặng 59 máy bay các loại, trong đó có 21 máy bay ném bom chiến lược B5, 01 máy bay do thám U2, 11 phản lực cơ,… 01 kho đạn pháp 105 ly, 01 đài quan sát sân bay, giết và làm bị thương 293 tên địch, hầu hết là sĩ quan phi công và nhân viên kỹ thuật. Chiến thắng sân bay Biên Hoà đã làm rung chuyển cả Lầu Năm góc, mở đầu cho hàng loạt trận tấn công vào sân bay chiến lược Biên Hòa sau này của các lực lượng vũ trang giải phóng, hỗ trợ đắc lực cho toàn chiến trường miền Nam giành thắng lợi.

- Chiến thắng tổng kho liên hợp hậu cần Long Bình (1966-1972): Ngày 22/6/1966, bộ đội đặc công ta đánh vào Tổng kho gây thiệt hại nặng cho địch, huỷ diệt 40.000 quả đạn pháo các loại. Đây là trận đánh đặc công đầu tiên của đặc công Biên Hòa, mở đầu cho hàng loạt trận đánh sau này. Cuối năm 1966 vào các tháng 10, 11, 12 bộ đội đặc công U1 đã 03 lần tấn công Tổng kho Long Bình, phá huỷ 353.000 đạn pháo và các loại bom. Ngày 03/02/1967, bộ đội đặc công U1 đột nhập Tổng kho đặt mìn hẹn giờ, làm nổ tung 40 dãy kho, phá huỷ 800.000 quả đạn pháo. Ngày 13/9/1972, đặc công đoàn 113 đánh khu kho 53 bằng thuốc nổ, đã phá hủy 200 kho đạn với hơn 15.000 tấn bom đạn, xăng dầu, 17 nhà lính, 300 tên Mỹ - ngụy chết và bị thương.

- Chiến dịch Xuân Lộc: Lực lượng ta tham gia gồm 03 sư đoàn thuộc quân đoàn 4 (sư 7, sư 341) và Quân khu 7 (sư 6) cùng trung đoàn 94b và lực địa phương tỉnh Bà Rịa - Long Khánh, chiến dịch diễn ra từ ngày 09/4/1975 đến 21/4/1975. Chiến dịch Xuân Lộc thắng lợi đã đập tan “Cánh cửa thép”, cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở xung quanh Sài Gòn. Thắng lợi của chiến dịch Xuân Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông, một thế trận mới rất có lợi làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà vào ngày 30/4/1975.

- Ngày giải phóng các địa phương trong tỉnh: Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thực hiện phương châm chỉ đạo “các địa phương nổi dậy, xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện”, các địa phương trong tỉnh lần lượt nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân: Ngày 20/3/1975, giải phóng Tân Phú, Định Quán; ngày 21/4/1975, giải phóng Long Khánh, Xuân Lộc; ngày 28/4/1975, giải phóng Thống Nhất; ngày 29/4/1975, giải phóng Long Thành, Nhơn Trạch; ngày 30/4/1975, giải phóng Biên Hòa, Vĩnh Cửu.

2. Truyền thống văn hóa

Trong tiến trình lịch sử 320 năm Biên Hòa - Đồng Nai, có biết bao thế hệ cha ông đã lao động, đấu tranh với thiên nhiên, vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh để biến đồng hoang thành đồng ruộng phì nhiêu, xóm làng trù phú. Từ một thương cảng sầm uất vào bậc nhất phía Nam của Tổ quốc, Nông Nại Đại Phố với nhiều vật sản như đá Biên Hòa, gốm Biên Hòa, đường mía Biên Hòa… đã rất nổi tiếng một thời và được ưa chuộng khắp “xứ Đàng Trong”. Người Biên Hòa siêng năng, bộc trực, sống chân thật, giản dị, thủy chung, nghĩa khí và hào phóng… đây là một vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa rất đáng trân trọng và tự hào.

Biên Hòa - Đồng Nai tự hào là nơi xây dựng Văn miếu đầu tiên ở phía Nam với tên gọi Văn miếu Trấn Biên. Xây dựng vào năm Ất Mùi 1715, là biểu tượng của truyền thống văn hóa: hiếu học, tôn sư trọng đạo, là nơi đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, là nơi gìn giữ tinh hoa của nền văn hóa dân tộc ngàn đời. Năm 1861, Văn miếu Trấn Biên đã bị thực dân Pháp phá bỏ. Đến năm 1998, Văn miếu Trấn Biên mới được khởi công khôi phục lại nơi vị trí cũ và hoàn thành vào năm 2002. Hiện nay, toàn cảnh khu vực Văn miếu Trấn Biên rất uy nghi, đẹp đẽ và quy mô này tọa lạc tại khu đất rộng 15 héc ta thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Xưa kia, văn miếu chỉ thờ Khổng Tử, bậc khai sáng nền Nho học để thể hiện tinh thần trọng học. Đến nay, vẫn tinh thần trọng học ấy nhưng được soi sáng qua tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy chữ “Văn” làm gốc. Văn miếu Trấn Biên chọn lựa thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là nhà khai sáng văn hóa thời đại Hồ Chí Minh cùng với các bậc tiền hiền kết tinh các giá trị văn hóa Việt Nam, đậm sắc thái phương Nam. 

Tháng 4/2014, Trung tâm Văn miếu Trấn Biên đã triển khai thực hiện công trình “Vườn tượng danh nhân văn hóa” tọa lạc tại khuôn viên phía trước Văn miếu Trấn Biên với diện tích 4,0 héc ta. Công trình đầu tư xây dựng tượng vua Lý Thái Tổ, 12 tượng danh nhân thờ tại Văn miếu Trấn Biên, thi tướng Huỳnh Văn Nghệ và khu công viên vườn tượng. Công trình được khánh thành vào ngày 22/9/2015 chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020.

Ngày nay, Văn miếu Trấn Biên đã được xây dựng trở thành một thiết chế văn hóa thiêng liêng, có 15 hạng mục, là điểm hẹn văn hóa kết tinh và lan tỏa sâu rộng ở xứ Đồng Nai. Hàng năm, Trung tâm Văn miếu Trấn Biên thu hút trung bình khoảng 165 ngàn lượt người đến tham quan và tham dự các hoạt động văn hóa, tôn vinh điển hình tiêu biểu, đặc biệt là các em học sinh, sinh viên đến tham quan, học tập, sinh hoạt ngoại khóa, chuyên đề.

Vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai tự hào đã có biết bao nhân tài, các nhà khoa bảng, nhà văn hóa, anh hùng dân tộc, các nhân vật tiêu biểu như: Nguyễn Hữu Cảnh, Trần Thượng Xuyên, Trịnh Hoài Đức, Đào Trí Phú, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Đức Ứng, Trương Công Định, Đoàn Văn Cự, Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm… Trịnh Hoài Đức, một nhà văn hóa ưu tú của Đồng Nai ở thế kỷ XVIII. Ông là người học rộng, tài cao, một vị quan thanh liêm, nhưng hơn hết ông là một nhà văn hóa được xưng tụng là một trong “tam gia” của Gia Định (Trịnh Hoài Đức - Lê Quang Định - Ngô Nhơn Tĩnh). Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó có bộ sách Gia Định thành thông chí, một công trình văn hóa, lịch sử không thể thiếu trong việc nghiên cứu con người, vùng đất văn hóa phía Nam. 

Mảnh đất Đồng Nai tự hào vì là quê hương thứ hai của nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ khắp miền quê đất nước hội tụ về. Đến tháng 10/2018, toàn tỉnh có 1.118 Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phong tặng và truy tặng. Hiện nay, tỉnh Đồng Nai có 66 mẹ còn sống và huyện Nhơn Trạch là địa phương có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất trong toàn tỉnh nhà, với 249 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. 

Toàn tỉnh Đồng Nai có 70 đơn vị được tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Có 29 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Có 02 tập thể anh hùng lao động và 04 cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.

Truyền thống văn hóa của Biên Hòa - Đồng Nai còn được phản ánh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân thông qua các hoạt động như: các nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên, lễ cưới, lễ tang, tập quán, tín ngưỡng... những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian trong lao động được thể hiện qua: hát hò cấy lúa, hò chèo xuồng (hình thức đối đáp giữa hai bên trai và gái thể hiện sự thông minh dí dỏm của người dân lao động), điệu lý lu là, lý trèo lên, kể vè, đồng dao, đờn ca tài tử, hát tuồng... Về nghi lễ tôn giáo có: hát múa Địa - Nàng, bóng rỗi (ở lễ hội cúng miễu và lễ Đứng cái, lễ Xây chầu) với mong ước quốc thịnh, dân cường, an khang, hạnh phúc.

Biên Hòa - Đồng Nai tự hào là vùng đất có nhiều di tích thắng cảnh còn tồn tại đến ngày nay như: Khu Di tích mộ cổ Hàng Gòn, đình An Hòa, đình Tân Lân, di tích lăng mộ Trịnh Hoài Đức, Di tích đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, di tích Đài Kỷ niệm, thành Biên Hòa, chùa Đại Giác, chùa Bửu Phong, chùa Bửu Sơn, căn cứ Chiến khu Đ, di tích Tòa bố, Quảng trường Sông Phố, cụm di tích Chiến thắng La Ngà, nhà lao Tân Hiệp, cụm di tích Chiến thắng Xuân Lộc...

Đồng Nai có nhiều điểm du lịch trên địa bàn tỉnh có lợi thế về cảnh quan thiên nhiên (thác, hồ, núi…) đã thu hút rất đông khách du lịch, giai đoạn 2011 - 2015 tăng bình quân 12% năm, riêng năm 2017, ngành du lịch Đồng Nai đã thu hút được 3,48 triệu lượt khách tham quan. Hệ thống di sản văn hóa đa dạng: 54 di tích được xếp hạng (trong đó 02 di tích được xếp hạng quốc gia đặc biệt, 29 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 23 di tích xếp hạng cấp tỉnh). Các danh thắng nổi tiếng thu hút du khách ở Đồng Nai hiện nay: khu du lịch Bửu Long, Vườn Quốc gia Cát Tiên, Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, Hồ Trị An, khu du lịch Suối Mơ, thác Giang Điền, Đá Hàn, du lịch sinh thái Vườn - Làng bưởi Tân Triều, và mới đây tỉnh Đồng Nai đã khai trương, đưa vào khai thác tuyến du lịch đường sông. Với nhiều loại hình khác nhau như du lịch sinh thái, du lịch thể thao, vui chơi giải trí, văn hóa, tín ngưỡng…đã góp phần đáp ứng một phần nhu cầu vui chơi giải trí của người dân trong và ngoài tỉnh. 

* Tổ chức các hoạt động kỷ niệm Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (1698 - 1998)

Tiếp nối truyền thống nền văn hóa qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cùng với phát huy truyền thống “Miền Đông gian lao mà anh dũng” trước đây kiên cường trong kháng chiến với mọi kẻ thù, nay anh hùng trong xây dựng, phát triển đất nước và tỉnh nhà về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Nhân dịp kỷ niệm 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai hình thành và phát triển (1698 - 1998), tối ngày 19/12/1998, tại Sân vận động tỉnh Đồng Nai, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai long trọng tổ chức Lễ hội kỷ niệm 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai hình thành và phát triển với các hoạt động sôi nổi và hoàn thành các công trình lớn chào mừng kỷ niệm 300 năm, như: Bia tưởng niệm tại xã Hiệp Hòa (thành phố Biên Hòa), trùng tu lăng mộ Trịnh Hoài Đức, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, đền thờ Nguyễn Tri Phương, tượng đài chiến thắng La Ngà, tượng đài Đặc công Rừng Sác, sách Địa chí Đồng Nai, sách Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (1698 - 1998),...

* Tổ chức các hoạt động kỷ niệm Biên Hòa - Đồng Nai 310 năm hình thành và phát triển (1698 - 2008)

Lễ hội 310 năm được tổ chức vào năm 2008 là đánh dấu thời điểm 310 năm lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai (1698 - 2008) và để khắc họa những dấu ấn về sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp quần chúng nhân dân, các doanh nghiệp tỉnh Đồng Nai trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội 10 năm kể từ sau kỷ niệm 300 năm. Với chủ đề “310 năm Biên Hòa - Đồng Nai phát triển bền vững”, tối ngày 27/12/2008, tại Văn miếu Trấn Biên, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai long trọng tổ chức Lễ hội kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai hình thành và phát triển với các hoạt động sôi nổi và hoàn thành các công trình lớn được gắn bảng chào mừng kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, như: xây dựng Trung tâm sinh thái văn hóa lịch sử Chiến khu Đ, các công trình xây dựng cơ bản của các sở, ban, ngành và địa phương trong toàn tỉnh và công bố 10 cảnh đẹp, 10 công trình kiến trúc, 10 bài hát hay,...

* Tổ chức các hoạt động kỷ niệm Biên Hòa - Đồng Nai 320 năm hình thành và phát triển (1698 - 2018)

Với chủ đề “320 năm Biên Hòa - Đồng Nai hình thành và phát triển” và tập trung tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, con người, giá trị truyền thống, lịch sử, văn hóa vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đến bạn bè trong nước và quốc tế, đồng thời, khơi gợi niềm tự hào lịch sử dân tộc của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ đổi mới và phát triển hiện nay; tiếp tục khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc của các tầng lớp nhân dân, công nhân, trí thức, phụ nữ, thanh niên, lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển bền vững hiện nay. Tối ngày 28/12/2018, tại Sân vận động Đồng Nai, Thường trực Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai sẽ long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 320 năm Biên Hòa - Đồng Nai hình thành và phát triển với các hoạt động sôi nổi và khởi công các công trình lớn chào mừng kỷ niệm 320 năm Biên Hòa - Đồng Nai, như: khởi công dự án mở rộng, trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh; đưa vào hoạt động tuyến du lịch đường sông Đồng Nai, điểm du lịch sinh thái Đảo Ó - Đồng Trường; khởi công xây dựng hạng mục Nhà Khánh tiết - Trung tâm Văn miếu Trấn Biên,...

IV. MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI

Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, dưới ánh sáng nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc qua các nhiệm kỳ, Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đã vận dụng và cụ thể hóa phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, sự nỗ lực khắc phục khó khăn của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn, kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai có bước phát triển tích cực, đời sống vật chất, tinh thần của người dân dược nâng cao. Đồng Nai tự hào là tỉnh đứng tốp đầu cả nước về thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, xuất khẩu, phát triển công nghiệp. Tăng trưởng kinh tế của tỉnh luôn đạt mức cao và là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng, tăng cao gấp 2 lần so với mức tăng trưởng bình quân chung của cả nước. GRDP bình quân đầu người sau mỗi chu kỳ 05 năm tăng gấp đôi so với 05 năm trước liền kề, từ mức 185 USD/người năm 1985, đạt mức 333 USD năm 1995, 875 USD năm 2005 và đến năm 2017 đạt trên 4 ngàn USD. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã tạo cho Đồng Nai một sự phát triển mới về chất, thúc đẩy quá trình tích lũy đầu tư phát triển kinh tế, tăng mức tiêu dùng của xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đồng Nai là địa phương có số lượng khu công nghiệp lớn nhất nước, là một trong các địa phương dẫn đầu về phát triển công nghiệp với sự phát triển nhanh cả về quy mô, năng lực sản xuất và hình thành một số ngành mới, sản phẩm mới, cơ cấu và phân bổ các cơ sở công nghiệp đồng bộ hơn, hợp lý hơn, tỷ trọng dự án công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ ngày càng gia tăng nhanh chóng. Năm 1985, trên địa bàn có 115 xí nghiệp quốc doanh và 2.101 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Hiện nay, toàn tỉnh có 35 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt, trong đó 32 khu công nghiệp với hơn 38.300 doanh nghiệp (143 doanh nghiệp nhà nước, hơn 1.300 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (46 quốc gia và vùng lãnh thổ), số còn lại là doanh nghiệp tư nhân), thu hút 942.092 lao động làm việc.

Sản xuất nông nghiệp được tiếp tục thực hiện tái cơ cấu theo chủ trương của tỉnh. Việc thực hiện các biện pháp khuyến khích hỗ trợ xây dựng cánh đồng lớn; phát triển chuỗi liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; đầu tư giống mới; phát triển sản xuất cây trồng theo hướng GAP được triển khai thực hiện khá mạnh mẽ. Lĩnh vực chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi công nghiệp, an toàn dịch, vệ sinh môi trường.

Việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới được cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đã tập trung quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và nhận được sự ủng hộ, đồng thuận cao của nhân dân. Năm 2014, Đồng Nai vinh dự là tỉnh có 02 đơn vị cấp huyện đầu tiên của cả nước được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành xây dựng nông thôn mới (huyện Xuân Lộc, thị xã Long Khánh). 

Hệ thống cấp điện, cấp nước đã phủ kín toàn tỉnh đến 100% số xã; hoạt động bưu chính viễn thông đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hạ tầng giao thông có nhiều chuyển biến tích cực, các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ đã được nâng cấp, cải tạo kịp thời, phong trào xã hội hóa giao thông nông thôn được triển khai sâu rộng, hiệu quả đã góp phần tích cực làm thay đổi diện mạo nông thôn, từng bước rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Đặc biệt, trong những năm gần đây, với quyết tâm đột phá trong phát triển hạ tầng giao thông, nhiều công trình dự án giao thông lớn của Trung ương, của tỉnh đã và đang khởi động như tuyến cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Bến Lức - Long Thành, Dầu Giây - Phan Thiết, các cầu vượt tại các nút giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh là cửa ngõ ra vào TP.Biên Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, bước đầu đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông, rút ngắn cự ly vận chuyển, tạo thuận lợi cho kết nối giao thông liên vùng.

Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao tiếp tục phát triển; tăng cường đầu tư thiết chế văn hóa, hạ tầng kỹ thuật, truyền thông. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được chú trọng; công tác trùng tu, tôn tạo được huy động chủ yếu từ nguồn xã hội hóa. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng được duy trì và phát triển; thể thao thành tích cao giành được một số giải quốc gia và khu vực. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, quảng bá tiềm năng, xúc tiến du lịch; số lượt khách du lịch đến thăm tỉnh Đồng Nai bình quân hàng năm đều tăng. Đến cuối năm 2017, toàn tỉnh có 96,4% ấp, khu phố đạt ấp khu phổ văn hỏa; 98,78% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa; cỏ 99,88% cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa, 77% doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa.

Giáo dục và đào tạo đạt được nhiều kết quả tích cực. Thực hiện từng bước đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện được duy trì. Quy mô, mạng lưới cơ sở trường, lớp, học sinh, học viên, sinh viên phát triển; hiện toàn tỉnh có 318 trường mầm non, 303 trường tiểu học, 179 trường THCS, 73 trường THPT, 128 trung tâm giảng dạy ngoại ngữ, tin học và hoạt động giáo dục kỹ nãng sổng. Chất lượng giáo dục và đào tạo toàn diện được nâng lên. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học từng bước được đầu tư hoàn chỉnh theo hướng đạt chuẩn, tiên tiến đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp; đạt và tiếp tục duy trì chuẩn quốc gia toàn tỉnh về xóa mũ chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đến nay, kết quả xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia trong hệ thống trường công lập đạt được như sau: Mầm non 106/225 trường, tỷ lệ 47,11% (so với năm học 2014 - 2015 tăng 49 trường, tăng 21,21%); tiểu học 131/298 trường, tỷ lệ 43,96% (so với năm học 2014 tăng 40 trường, tăng 13,93%); THCS 92/173 trường, tỷ lệ 53,18% (so với năm học 2014 - 2015 tăng 33 trường, tăng 18,47%); THPT 18/47 trường, tỷ lệ 38,30% (so với năm học 2014-2015 tăng 05 trường, tăng 8,75%).

Chính sách xã hội được quan tâm, chăm lo, thực hiện đầy đủ và kịp thời. Tuyệt đại đa số hộ gia đình chính sách, người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình. Tỉnh đã làm tốt công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, tổ chức thăm hỏi, tặng quà vào các dịp lễ, tết cho người có công, gia đình thương binh, gia đình liệt sĩ chu đáo; thực hiện tốt công tác mua và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người có công, kết quả đã thực hiện giải quyết chế độ cho 6.172 đối tượng người có công. Từ năm 2013 đến nay, đã có 1.868 căn nhà được sửa chữa, xây mới cho người có công, thân nhân người có công với các mạng; hàng tháng, có hơn 13,7 ngàn người có công được nhận trọ cấp theo quy định với kinh phí trên 22,7 tỷ đồng. Công tác chăm lo cho người nghèo, công tác bảo trợ xã hội, bảo vệ chăm sóc trẻ em được được các cấp quan tâm thực hiện tốt, bằng nguồn kinh phí vận động trong nhân dân, cuộc vận động “vì người nghèo”, từ năm 2013 đến nay, toàn tỉnh đã vận động xây dựng được 16.439 căn, sửa chữa 1.416 căn nhà tình thương, trị giá trên 247 tỷ đồng.

Chính sách an sinh xã hội được đảm bảo, triển khai thực hiện khá hiệu quả các biện pháp giải quyết việc làm, từ năm 2015 đến nay đã giải quyết việc làin cho 184.400 lượt lao động, giảm tỷ lệ lao động không có việc làm ở khu vực thành thị, đến cuối năm 2017 chỉ còn chiếm tỷ lệ 2,4%. Hoạt động y tế, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân có chuyển biến, 100% xã, phường, thị trấn có trạm y tế và có bác sĩ khám chữa bệnh. Tính đến năm 2017, có 7,5 bác sĩ/vạn dân; 27,5 giường bệnh/vạn dân; trong đó y tế công lập đạt 21,5 giường bệnh/vạn dân, y tế ngoài công lập đạt 6 giường bệnh/vạn dân, đạt chỉ tiêu đề ra.

Công tác giảm nghèo đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, giai đoạn 2011 - 2014 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn của tỉnh giảm nhanh từ 6,62% (tương ứng hộ) đầu năm 2011 xuống còn 0,94% (tương ứng 6.855 hộ) cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo chuẩn cả nước giảm từ 1,45% (tương ứng 9.332 hộ) đầu năm 2011 xuống còn 0,21% (tương ứng 1.493 hộ) vào cuối năm 2014, tỷ lệ hộ cận nghèo cả nước giảm từ 3,18% (tương ứng 20.417 hộ) đầu năm 2011 xuống còn 0,19% (tương ứng 1.353 hộ) vào cuối năm 2014. Trong 3 năm (2015 - 2017), toàn tỉnh đã giảm được 1,99% hộ nghèo, tương ứng giảm trên 13.500 hộ nghèo, đạt 103,9% so kế hoạch và giảm được gần 3.000 hộ cận nghèo. Ðến đầu năm 2018, toàn tỉnh chỉ còn hơn 3.100 hộ nghèo A (0,4%) và gần 4.700 hộ cận nghèo (0,59%). So với mục tiêu của chương trình quốc gia, Ðồng Nai đã cơ bản xóa hết hộ nghèo A.

Công tác tổ chức xây dựng Đảng được tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc ở cơ sở. Công tác phát triển đảng, tặng, truy tặng Huy hiệu Đảng được thực hiện nền nếp. Công tác cán bộ tiếp tục đổi mới theo hướng tinh gọn, hiệu quả, công khai, dân chủ, minh bạch. Quan tâm thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên. Đồng Nai hiện có 16 đảng bộ trực thuộc tỉnh, với 742 tổ chức cơ sở đảng và gần 80 ngàn đảng viên; trong đó tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 164 cơ sở, với trên 3 ngàn đảng viên; bình quân hàng năm tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng được xếp loại trong sạch vững mạnh đạt trên 80%, đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt trên 90%.

Công tác xây dựng chính quyền được chú trọng và đạt kết quả tích cực, hoạt động Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp được đổi mới cả về phương thức và nội dung hoạt động. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của thường trực, các ban HĐND các cấp, tổ đại biểu HĐND được nâng lên. Các đại biểu dân cử phát huy vai trò đại diện của mình thông qua các hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương theo đúng quy định pháp luật.

UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính đạt những tiến bộ rõ rệt, được đa số người dân và doanh nghiệp đánh giá cao, đặc biệt là góp phần đáng kể cho việc cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh thu hút đầu tư. Tỉnh đã thành lập và đưa vào hoạt động Trung tâm Hành chính công; thành lập tổng đài dịch vụ công với đầu số 1222; kiện toàn bộ phận một cửa tại UBND cấp huyện, xã; tăng cường cung cấp dịch vụ trực tuyến mức độ 3, 4; đẩy mạnh trao đổi văn bản điện tử; thông báo kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua tin nhắn SMS. Kết quả xếp hạng năm 2017 tỉnh Đồng Nai đều tăng hạng đáng kể và đạt kết quả tốt trong cả ba bộ chỉ số: chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh (PAR INDBX), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

Công tác đảm bảo quốc phòng, quân sự địa phương được chỉ đạo, triển khai thực hiện toàn diện; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thị xã, thành phố được củng cố; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; phòng, chống giảm nhẹ thiên tai, cháy nổ. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản được giữ vững ổn định.

*****

Kỷ niệm 320 năm Biên Hòa - Đồng Nai hình thành và phát triển, Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, nêu cao tinh thần đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đề ra, xây dựng Đồng Nai ngày càng giàu đẹp, văn minh.

(BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY)



Hình ảnh hoạt động

Thư viện phim

Không có video clip.
Xem thêm

Lượt truy cập


hội liên hiệp phụ nữ tỉnh đồng nai

Chịu trách nhiệm chính: Bà Lê Thị Ngọc Loan - Chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh
Điện thoại: 02513.843.368 - Email: bbthoipndn@dongnai.gov.vn
Bản quyền thuộc về Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Nai
® Ghi rõ nguồn "Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Nai" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.